Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính
Ngày 18/3/2025, Chính phủ ban hành Nghị
định số 68/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và có hiệu thi hành kể từ ngày 02/5/2025.
Theo đó, Nghị định số 68/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 9 Nghị định số
118/2021/NĐ-CP về áp dụng hình thức phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép,
chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
1. Nguyên tắc xác định mức phạt tiền cụ
thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp có tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ: Nghị định số
68/2025/NĐ-CP quy định nguyên tắc xử phạt khi có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
theo hướng linh hoạt, theo đúng tinh thần của khoản 4 Điều 23, khoản 3 Điều 25
Luật Xử lý vi phạm hành chính, đồng thời, quy định nếu nghị định xử phạt vi
phạm hành chính trong các lĩnh vực nhà nước có quy định nguyên tắc xác định
tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp có
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì áp dụng theo quy định tại nghị định đó.
Cụ thể, Nghị định số 68/2025/NĐ-CP quy định như sau:
- Mức phạt tiền cụ thể đối với một hành
vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối
với hành vi đó;
- Nếu có 01 tình tiết giảm nhẹ thì mức
tiền phạt cụ thể được xác định trong khoảng từ trên mức tối thiểu đến dưới mức
trung bình của khung tiền phạt; trong trường hợp có từ 02 tình tiết giảm nhẹ
trở lên, thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt;
- Nếu có 01 tình tiết tăng nặng thì mức
tiền phạt cụ thể được xác định trong khoảng từ trên mức trung bình đến dưới mức
tối đa của khung tiền phạt; trong trường hợp có từ 02 tình tiết tăng nặng trở
lên, thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt;
- Nếu vừa có tình tiết tăng nặng, vừa
có tình tiết giảm nhẹ, thì giảm trừ một tình tiết tăng nặng với một tình tiết
giảm nhẹ;
- Nếu nghị định xử phạt vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có quy định nguyên tắc xác định mức
tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp có
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì áp dụng theo quy định tại nghị định đó.
2. Nguyên tắc xác định thời hạn cụ thể
tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt
động có thời hạn đối với một hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp có
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Nghị
định số 68/2025/NĐ-CP quy định nguyên tắc xác định thời hạn cụ thể tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời
hạn đối với một hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp có tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ như sau:
- Thời hạn tước quyền sử dụng giấy
phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động cụ thể đối với một hành vi vi
phạm hành chính là mức trung bình của khung thời gian tước, đình chỉ được quy
định đối với hành vi đó;
- Nếu có 01 tình tiết giảm nhẹ thì thời
hạn bị tước hoặc đình chỉ được xác định trong khoảng từ trên mức tối thiểu đến
dưới mức trung bình của khung thời gian tước, đình chỉ; trong trường hợp có từ
02 tình tiết giảm nhẹ trở lên, thì áp dụng mức tối thiểu của khung thời gian
tước, đình chỉ;
- Nếu có 01 tình tiết tăng nặng thì
thời hạn bị tước hoặc đình chỉ được xác định trong khoảng từ trên mức trung
bình đến dưới mức tối đa của khung thời gian tước, đình chỉ; trong trường hợp
có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên, thì áp dụng mức tối đa của khung thời
gian tước, đình chỉ;
- Nếu vừa có tình tiết tăng nặng, vừa
có tình tiết giảm nhẹ, thì giảm trừ một tình tiết tăng nặng với một tình tiết
giảm nhẹ;
- Nếu nghị định xử phạt vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có quy định nguyên tắc xác định thời
hạn cụ thể tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình
chỉ hoạt động có thời hạn đối với một hành vi vi phạm hành chính trong trường
hợp có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì áp dụng theo quy định tại nghị định
đó.
3. Quy định áp dụng hình thức xử phạt
tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn: Đối với việc áp dụng hình thức xử phạt
tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, Nghị định quy
định:
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt nhiều
hành vi vi phạm có áp dụng hình thức tước quyền sử dụng có thời hạn đối với các
loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề khác nhau trong cùng một lần, thì áp dụng
khung thời gian tước quyền sử dụng của từng loại giấy phép, chứng chỉ hành
nghề;
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt nhiều
hành vi vi phạm trong cùng một lần, trong đó có từ hai hành vi trở lên bị áp
dụng hình thức tước quyền sử dụng có thời hạn đối với cùng một loại giấy phép,
chứng chỉ hành nghề với nhiều khung thời gian tước khác nhau, thì áp dụng khung
thời gian tước quyền sử dụng của hành vi bị xử phạt có quy định thời hạn tước
dài nhất;
- Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
nhiều lần và thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 8 Nghị định số
118/2021/NĐ-CP, mà bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trong đó có áp dụng hình
thức tước quyền sử dụng có thời hạn đối với cùng một loại giấy phép, thì áp
dụng khung thời gian tước quyền sử dụng dài nhất quy định đối với hành vi đó trong
các lần vi phạm;
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt về hành
vi vi phạm có áp dụng hình thức tước quyền sử dụng có thời hạn mà thời hạn còn
lại của giấy phép, chứng chỉ hành nghề ngắn hơn thời hạn tước quyền sử dụng,
thì áp dụng thời hạn tước quyền sử dụng theo quy định đối với hành vi vi phạm.
Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm được cấp đổi hoặc cấp mới giấy phép, chứng
chỉ hành nghề trong thời gian tước theo quyết định xử phạt, thì không được tiến
hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời gian bị
tước;
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt về hành
vi vi phạm có áp dụng hình thức tước quyền sử dụng có thời hạn mà giấy phép,
chứng chỉ hành nghề đó đang bị tước theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính,
thì cá nhân, tổ chức vi phạm bị coi là hoạt động không có giấy phép, chứng chỉ
hành nghề.
Quy định việc áp dụng hình thức xử phạt
đình chỉ hoạt động có thời hạn
Nghị định quy định áp dụng hình thức xử phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn như
sau:
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt nhiều
hành vi vi phạm, trong đó áp dụng hình thức đình chỉ có thời hạn đối với nhiều
hoạt động khác nhau trong cùng một lần, thì áp dụng khung thời gian đình chỉ
theo từng hoạt động;
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt nhiều
hành vi vi phạm trong cùng một lần, trong đó có từ hai hành vi trở lên bị áp
dụng hình thức đình chỉ đối với cùng một hoạt động với nhiều khung thời gian
đình chỉ khác nhau, thì áp dụng khung thời gian đình chỉ của hành vi bị xử phạt
có quy định thời hạn đình chỉ dài nhất;
- Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
nhiều lần và thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 8 Nghị định số
118/2021/NĐ-CP, mà bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trong đó có áp dụng hình
thức đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với cùng một hoạt động, thì áp dụng
khung thời gian đình chỉ hoạt động dài nhất quy định đối với hành vi đó trong
các lần vi phạm.
Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính nhiều lần và bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, thì không áp dụng
tình tiết vi phạm hành chính nhiều lần là tình tiết tăng nặng khi xem xét,
quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với từng lần vi phạm đó. Thẩm quyền
áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề
thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính mà không phụ thuộc
vào thẩm quyền cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó.
4. Tạm giữ, giữ giấy phép, chứng chỉ
hành nghề trong xử phạt vi phạm hành chính: Theo
Nghị định số 68/2025/NĐ-CP khi thi hành công vụ, người có thẩm quyền có trách
nhiệm kiểm tra thông tin về giấy phép, chứng chỉ hành nghề của cá nhân, tổ chức
vi phạm từ các cơ sở dữ liệu, căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử
theo quy định; nếu không thể kiểm tra được thông tin thì yêu cầu cá nhân, tổ
chức vi phạm xuất trình giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trường hợp phải áp dụng
biện pháp tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo quy định tại khoản 1 Điều
125 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền yêu cầu cá nhân, tổ
chức vi phạm giao nộp bản giấy của giấy phép, chứng chỉ hành nghề và tạm giữ
giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo quy định;
Trường hợp phải áp dụng hình thức xử
phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, thì người có thẩm quyền
xử phạt yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm giao nộp và giữ bản giấy của giấy
phép, chứng chỉ hành nghề, trừ trường hợp đã tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành
nghề theo quy định tại khoản 7 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Việc giao nộp và giữ bản giấy của giấy
phép, chứng chỉ hành nghề phải lập thành biên bản và giao 01 bản cho cá nhân,
người đại diện tổ chức vi phạm. Nếu đã lập biên bản tạm giữ giấy phép, chứng
chỉ hành nghề thì biên bản tạm giữ tiếp tục có giá trị cho đến hết thời hạn
tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo quyết định xử phạt vi
phạm hành chính;
Trường hợp giấy phép được cấp dưới dạng
điện tử hoặc được thể hiện dưới hình thức thông điệp dữ liệu thì cơ quan, người
có thẩm quyền thực hiện tạm giữ, tước trên môi trường điện tử theo quy định nếu
đáp ứng được điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin. Việc tạm giữ,
tước quyền sử dụng được cập nhật trạng thái trên cơ sở dữ liệu hoặc căn cước
điện tử, tài khoản định danh điện tử theo đúng quy định.
Nghị định quy định trong thời hạn 02
ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có áp dụng
hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, người có
thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi quyết định xử phạt vi phạm hành
chính cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Cơ quan đã cấp giấy
phép, chứng chỉ hành nghề có trách nhiệm cập nhật thông tin về việc giữ, tước
giấy phép, chứng chỉ hành nghề vào cơ sở dữ liệu.
5. Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính: Nghị
định quy định rõ người có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính quy định tại khoản 2 Điều 65 và khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm
hành chính là người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc
đó. Đối với trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm
tàng trữ, cấm lưu hành, thì việc xác định người có thẩm quyền tịch thu được
thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này.
Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính là
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc đó. Người có thẩm
quyền tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm
gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm
độc hại theo quy định tại khoản 5 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính là
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc đó./.
Hải Lam Phương